VIỆC ÁP THUẾ ĐỐI VỚI NHÔM VÀ THÉP NHẬP KHẨU CỦA MỸ NÓI DỄ HƠN LÀM

Lịch sử đã từng chứng kiến những thời điểm khó khăn và có vẻ như lịch sử lại tái diễn khi vào ngày 23/3, thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm thép và nhôm của Tổng thống Donald Trump có hiệu lực. Một số đời Tổng thống Mỹ trước đấy, kể từ Ronald Reagan tới Barack Obama, cũng đã đều sử dụng công cụ thuế như là một biện pháp bảo hộ các nhà sản xuất thép trong nước trước sự cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. (Trong lịch sử cũng đã từng có sự kiện tương tự như kế hoạch của ông Trump nhằm áp thuế đối với các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc; đó là trong thập niên những năm 80 và đối tượng bị áp thuế là Nhật Bản). Lịch sử không có nghĩa là lặp lại nhưng theo kinh nghiệm trong quá khứ là không nên.

 

 

Vấn đề khó khăn nhất đối với các nhà hoạch định chính sách của Mỹ là thương mại cũng giống như nước. Khi chặn dòng chảy của nó ở một chỗ thì áp lực sẽ lại dồn sang những chỗ khác. Khi nhiều quốc gia cùng bị áp thuế thì thương mại có thể đơn giản là sẽ được chuyển hướng sang những quốc gia mà không bị áp. Những nhà nhập khẩu sẽ tìm cách để được miễn thuế. Điều đó sẽ dẫn tới kết quả là những tham vọng to lớn của chính quyền Trump về thương mại một cách đơn phương sẽ khó mà đạt được.

 

Vào năm 1982, Mỹ đã làm cho Cộng đồng châu Âu (EU), tiền thân của Liên minh châu Âu, buộc phải hạn chế xuất khẩu thép sang Mỹ. Nhưng việc bù đắp nguồn cung thiếu hụt từ các nước khác lại lớn hơn nhiều, đến mức nhập khẩu thép của Mỹ tăng cao. Miễn thuế đối với Canada, Mexico, Israel và Jordan khi George W. Bush áp thuế nhập khẩu thép vào năm 2002 cho phép tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ của các nước này tăng 53%. Các nhà xuất khẩu Canada và Mexico, những người được miễn thuế trong sắc lệnh mới nhất này, đã chiếm phần lớn thị phần kim ngạch nhập khẩu của Mỹ và nay họ có thể chiếm toàn bộ.

 

Để ngăn chặn những trường hợp đó, Robert Lighthizer, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, cho biết sẽ không áp thuế cho các đồng minh của Mỹ nếu họ đảm bảo kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ không vượt quá mức năm 2017. Ngày 21 tháng 3 ông tiết lộ các cuộc đàm phán có thể kéo dài cho đến cuối tháng Tư. Nhưng một thỏa thuận như vậy sẽ phá vỡ các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới, và đặt các quan chức chứ không phải thị trường vào vai trò phân phối quyền xuất khẩu.

 

Khi các quốc gia khác nhau được đối xử khác nhau, việc tránh né các mức thuế quan có vẻ sẽ được chú ý. Dưới thời Obama, Mỹ đã áp thuế chống bán phá giá cao đối với hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

 

Theo đó dòng chảy từ Trung Quốc giảm sút, nhưng từ Việt Nam lại tăng lên. Bộ Thương mại Mỹ gần đây đã kết luận rằng một số mặt hàng thép nhập khẩu, được cho là từ Việt Nam, thực sự lại có nguồn gốc ở Trung Quốc. Ông Trump cũng kỳ vọng ​​Canada và Mexico sẽ đảm bảo rằng họ không trở thành đường dẫn thép có nguồn gốc từ các nơi khác vào Mỹ. Nhưng điều đó nhìn chung là khá khó vì chỉ cần gia công thêm một chút là đã thay đổi được xuất xứ.

 

Các rào cản về thuế của ông Trump rộng hơn ông Obama. Điều đó làm cho việc gian lận trở nên khó hơn - nhưng cũng có nghĩa là các nhà nhập khẩu sẽ kêu to hơn để được miễn thuế. Sau khi các biện pháp bảo vệ thép của ông Bush được áp dụng cho EU và Nhật Bản vào năm 2002, những công ty nhập khẩu bị mất nguồn cung đã tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho việc kiện tụng tại  Washington. Cuối cùng 1.022 trường hợp miễn thuế đã được giải quyết, mà hơn 90% trong số đó là các công ty nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản và EU. Lần này, chính quyền của ông Trump dự kiến sẽ phải sử dụng 24.000 giờ làm việc để xử lý 4.500 yêu cầu miễn thuế đối với sản phẩm thép và 1.500 yêu cầu đối với sản phẩm nhôm. Các nhà vận động hành lang cũng đang sẵn sàng hành động.

 

Những đơn vị sử dụng nguyên liệu là kim loại cũng sẽ tìm cách cắt giảm đầu vào giá cao, việc này có thể đe dọa giảm việc làm. Năm 2002, ông chủ của Gordon Jones - công ty sản xuất thùng phi thép, bị áp mức thuế 30% đã chất vấn trong một phiên điều trần của Quốc hội: "Người ta nói rằng những loại thuế nhập khẩu này là nhằm giúp đỡ công nhân, giúp bảo toàn việc làm của ngành thép, thế còn đối với tôi thì sẽ thế nào?“. Nhiều khiếu nại như vậy sẽ xảy ra, vì các ngành sử dụng nguyên liệu thép chiếm nhiều việc làm của Mỹ hơn là ngành sản xuất thép.

 

Thuế quan không phải là chính sách thương mại duy nhất của ông Trump. Cũng như cố gắng viết lại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, ông đang cố gắng hạn chế sức mạnh thương mại của Trung Quốc. Dù cùng chung mục tiêu này nhưng chính sách thuế mới sẽ khó được các đồng minh của ông đồng thuận. Wendy Cutler, một nhà đàm phán thương mại dưới thời ông Obama, nói: "Các vấn đề như thế này có thể vượt qua mọi cuộc họp hoặc bất kỳ cuộc thảo luận nào đã từng diễn ra.”

 

Bill Brock, người đại diện Thương mại Hoa Kỳ dưới thời Reagan, nhớ lại những đàm phán thương mại với Nhật Bản vào những năm 1980. Ngay cả khi căng thẳng, ông vẫn nhận thức được việc phải đối xử với các nhà đàm phán Nhật Bản một cách tôn trọng, vì ông biết rằng nếu một lĩnh vực trong quan hệ thương mại bị tổn hại thì có thể ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác. Ông cảnh báo thuế quan chỉ là "biện pháp tức thời để giải quyết các vấn đề đơn lẻ", và có nguy cơ sẽ phải giải quyết những hệ lụy lớn hơn sau đó. "Trong số những thứ tổn hại do thuế quan gây ra mà chúng ta có thể hình dung thì chiến tranh thương mại là nặng nề nhất”.

 

Nguồn: The Economist